Trải qua gần 375 năm hình thành và phát triển, hiện nay, xã Cảnh Dương (Quảng Trạch) là một trong những địa phương có hạ tầng kỹ thuật, giao thông nông thôn tốt nhất ở tỉnh du lịch Quảng Binh. Đặc biệt, nơi đây đã hòa quyện được những giá trị truyền thống và nét hiện đại, tạo nên nét riêng có hấp dẫn du khách gần xa. Thú vị hơn, giờ đây, nếu có dịp ghé Cảnh Dương, du khách chắc chắn sẽ ngỡ ngàng trước cung đường bích họa bắt đầu từ đình thờ Tổ cho đến đường ven biển.
Độc đáo cung đường bích hoạ ở Cảnh Dương.
Cảnh Dương là một xã ven biển với cảnh quan thơ mộng, có vị trí địa lý rất thuận lợi, nằm cạnh quốc lộ 1A, cách khu mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp khoảng 10km, kết nối thuận lợi với các khu, điểm du lịch, trung tâm kinh tế xã hội của vùng: cách thị xã Ba Đồn khoảng 17km, cách đền Thánh Mẫu Liễu Hạnh và đèo Ngang 11km, cách Phong Nha – Kẻ Bàng khoảng 48km… tiếp cận thuận lợi bằng đường biển đến Cảng Hòn La, Vũng Chùa – Đảo Yến và các tuyến du lịch đường sông đi sông Gianh, sông Son.
Đến Cảnh Dương, du khách không chỉ ngắm nhìn cảnh quan của một làng biển trù phú mà còn được trải nghiệm các giá trị văn hóa, lịch sử vô cùng độc đáo, như: Linh Ngư Miếu; đình thờ Tổ, nơi thờ các vị hiền nhân khai khẩn vùng đất này và cũng là nơi trưng bày nhiều hiện vật văn hóa quý giá: quả chuông lớn mang tên “Cảnh viện hồng chung” (đúc vào đời vua Cảnh Thịnh 1801); 2 tấm bia đá khắc tên các vị khoa bảng của làng; các giá trị văn hóa phi vật thể nổi bật (lễ hội cầu ngư, lễ hội rước lửa, lễ hội đua thuyền, hát ru, chèo cạn…).
Hình ảnh làng biển được tái hiện trên cung đường bích hoạ.
Bên cạnh đó, Cảnh Dương có kiến trúc độc đáo với những ngôi nhà cổ bằng đá san hô trong lòng đô thị đang phát triển; có các làng nghề truyền thống đa dạng và phong phú, như: nước mắm, thuyền thúng, mộc.
Từ những tiềm năng và lợi thế về tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn, cùng với vị trí tiệm cận khu du lịch Vũng Chùa – Đảo Yến, Sở Du lịch đã phối hợp với UBND huyện Quảng Trạch, UBND xã Cảnh Dương lựa chọn Cảnh Dương để phát triển thành Làng văn hóa, du lịch đặc trưng với nhiều sản phẩm, dịch vụ du lịch độc đáo, khu du lịch cộng đồng kiểu mẫu của Quảng Bình.
Tinh thần chiến đấu quật cường của người dân Cảnh Dương được tái hiện qua những bức tranh.
Nhờ đó, giờ đây, đến Cảnh Dương, du khách sẽ ngỡ ngàng với cung đường bích họa bắt đầu từ Đình thờ Tổ cho đến đường ven biển. Với những bức tranh tường, tranh 3D độc đáo, du khách sẽ được chiêm ngưỡng câu chuyện về quá trình hình thành, phát triển, truyền thống anh hùng trong kháng chiến, những nét đẹp bình dị của làng biển trù phú này.
Đến đây, du khách cũng có thể thỏa sức “check – in”, “selfie” với những bức ảnh 3D độc đáo, những bức tranh, cảnh đẹp mà ít nơi nào có được. Trên cung đường bích họa, du khách có thể tham quan những ngôi nhà cổ, những bức tường cổ làm bằng đá san hô, còn nguyên màu rêu xanh cổ kính, trải nghiệm cuộc sống của người dân làng biển.
Du khách có thể thỏa sức “check – in”, “selfie” ở những bức ảnh 3D độc đáo.
Cùng với cung đường bích họa, Sở Du lịch đang phối hợp với xã Cảnh Dương và các đơn vị hoàn tất công tác chuẩn bị để triển khai xây dựng không gian trưng bày hai bộ xương cá voi lớn nhất và lâu đời nhất Việt Nam dưới hình dạng nguyên thủy ban đầu.
Đồng thời, Sở Du lịch cũng đang phối hợp với các đơn vị thực hiện và kêu gọi đầu tư triển khai các khu vực dịch vụ để mang đến cho du khách những sản phẩm, dịch vụ du lịch chất lượng, những sự trải nghiệm khác biệt chỉ có thể cảm nhận tại Cảnh Dương. Nhà hàng Cá Voi, Công viên thuyền thúng…
Resort Nha Trang hạng sang mới toanh và được nhiều du khách yêu thích – Cam Ranh Riviera Beach Resort & Spa là một resort lý tưởng cho nhiều du khách thích sự yên tĩnh trên bãi biển, tận hưởng kỳ nghỉ nhẹ nhàng và ấm cúng bên gia đình. Nhanh tay đặt phòng ngay hôm nay để nhận ưu đãi hấp dẫn từ Chudu24.
Trọn gói phòng – Ăn sáng + Đưa đón sân bay + Vui chơi công viên nước với giá chỉ từ 2.050.000vnđ/đêm
– Ăn sáng tự chọn hàng ngày tại nhà hàng Orchidee – Miễn phí vé vào cổng vui chơi tại Aqual Park dành cho 2 người lớn và 2 trẻ em dưới 12 tuổi/phòng/đêm (Bao gồm nước ngọt không giới hạn tại Aqual Park Bar) – Miễn phí đưa đón sân bay hai chiều – Miễn phí xe đưa đón hàng ngày vào trung tâm thành phố (theo lịch trình khu nghỉ) – Miễn phí sử dụng hồ bơi, phòng tập thể dục – Miễn phí sử dụng wifi internet – Thuế và phí dịch vụ
*Điều kiện: – Thời gian đặt và ở đến 31.05.2020 – Khuyến mãi chỉ áp dụng đối với Khách Việt Nam và khách Châu Á dưới 09 phòng – Phụ thu giai đoạn 30.04 – 02.05.2020 – Khuyến mãi không hoàn, không hủy, không thay đổi
——————————-
Đặt từ 02 đêm – Ăn sáng và tối + Đưa đón sân bay + Vui chơi công viên nước với giá chỉ từ 2.050.000vnđ/đêm
– Ăn sáng tự chọn hàng ngày tại nhà hàng Orchidee – Miễn phí duy nhất 01 Buffet tối (bao gồm đồ uống, bia tươi và rượu vang) dành cho 2 khách/phòng trong suốt thời gian lưu trú – Miễn phí vé vào cổng vui chơi tại Aqual Park dành cho 2 người lớn và 2 trẻ em dưới 12 tuổi/phòng/đêm (Bao gồm nước ngọt không giới hạn tại Aqual Park Bar) – Miễn phí đưa đón sân bay hai chiều – Miễn phí xe đưa đón hàng ngày vào trung tâm thành phố (theo lịch trình khu nghỉ) – Miễn phí sử dụng hồ bơi, phòng tập thể dục – Miễn phí sử dụng wifi internet – Thuế và phí dịch vụ *Điều kiện: – Thời gian đặt và ở đến 31.05.2020 – Khuyến mãi chỉ áp dụng đối với Khách Việt Nam và khách Châu Á dưới 09 phòng và đặt từ 02 đêm – Phụ thu giai đoạn 30.04 – 02.05.2020 – Khuyến mãi không hoàn, không hủy, không thay đổi
***Thông tin khu công viên nước: – Khu công viên nước chính thức khai trương từ ngày 01.09.2018 – Thơì gian hoạt động: 10:00 sáng – 05:00 chiều
Chương trình khuyến mãi số lượng có hạn & có thể hết sớm hơn dự kiến. Vui lòng liên hệ lại Chudu24 để kiểm tra tính khả dụng của khuyến mãi vào giai đoạn quý khách đặt.
Cam Ranh Riviera Beach Resort & Spa cách Nha Trang một quãng đường ngắn và chỉ mất khoảng 10 – 15 phút đi xe từ Sân bay Quốc Tế Cam Ranh, khu nghỉ mát biệt lập được bao quanh bởi các dãy núi với hệ thực vật phong phú và đồi cát rộng lớn. Cam Ranh Riviera Beach Resort & Spa là thiên đường lý tưởng cho những vị khách yêu thích kỳ nghỉ yên tĩnh trên bãi biển nhưng không xa thành phố năng động.
Resort Nha Trang này gồm 242 phòng được thiết kế và trang trí độc đáo với sự kết hợp hài hòa giữa phong cách kiến trúc đương đại với nội thất phương Tây hiện đại.
Tinh túy ẩm thực châu Á và châu Âu được giữ vẹn nguyên nhờ nguồn hải sản ngon nhất ở Cam Ranh và Nha Trang cũng như các nguyên liệu tự nhiên khác. Các món ăn quốc tế được chế biến theo phong cách châu Á với việc bổ sung các thành phần và gia vị địa phương. Nhà hàng với không gian mở nằm ngay bên hồ bơi chính và khu vực quầy bar hồ bơi của khu nghỉ dưỡng 5 sao. Từ nhà hàng, quý khách có thể đi theo lối trực tiếp xuống biển Bãi Dài xinh đẹp, ngắm Vịnh Cam Ranh với các hòn đảo nằm dọc theo đường chân trời.
Bên cạnh đó, đến với Cam Ranh Riviera Beach Resort Nha Trang, du khách không chỉ được ưu ái sở hữu hồ bơi riêng ngay cạnh phòng nghỉ, mà còn có thể hòa mình vào làn nước mát của hồ bơi chính với diện tích lên đến 880 m2 hay 14 hồ bơi riêng tại các biệt thự và hồ bơi chính gần nhà hàng Rosone, cách biển Bãi Dài chỉ vài bước chân.
Đặc biệt, một điểm mới mà du khách không thể bỏ qua khi nghỉ dưỡng tại Cam Ranh Riviera Beach Resort Nha Trang là Công viên nước mới toanh. Với trang thiết bị tiêu chuẩn quốc tế, khu công viên nước là sự lựa chọn không thể thiếu trong kỳ nghỉ của quý khách vì tính an toàn và phù hợp với mọi lứa tuổi, đặc biệt có nhiều hoạt động giải trí dành riêng cho trẻ em.
Nếu Thượng thư Đại hành khiển Trần Bang Cẩn là người có công mở mang miền đất sông Gianh thì vị tướng Hồ Cưỡng, ngoài việc đánh giặc giữ yên biên cõi, ông còn khai canh vùng đất ven biển du lịch Quảng Binh. Cả hai vị danh tướng thời nhà Trần được người dân trong vùng tôn là Thành hoàng và thờ phụng rất tôn kính.
Không để lại hậu duệ nhưng cả vùng thờ phụng
Ở làng Vĩnh Lộc, xã Quảng Lộc, huyện Quảng Trạch (nay là thị xã Ba Đồn) ngày nay có một ngôi điện thờ Thượng thư Đại hành khiển Trần Bang Cẩn (danh tướng dưới thời vua Trần Minh Tông (1314 -1357), người có công trấn giữ mảnh đất phía Nam của Đại Việt, chiêu dân lập ấp, xây dựng mở mang vùng đất mới.
Điện thờ Thượng thư Đại hành khiển, Thành hoàng Trần Bang Cẩn ở làng Vĩnh Lộc, xã Quảng Lộc, thị xã Ba Đồn.
Theo lịch sử, triều nhà Trần thời vua Trần Minh Tông, việc cai quản các lộ Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tĩnh… được giao cho con em vua Trần. Vâng lệnh triều đình, Trần Bang Cẩn đã thống lĩnh một đạo quân vào phía Nam của quốc gia Đại Việt.
Tại đây, vùng đất hai bờ hạ lưu sông Gianh, sau khi đánh thắng nhiều trận và dẹp yên quân Chiêm Thành, ông đã tụ tập dân binh, chiêu dân, hướng dẫn khai phá đất đai, lập ra hai xứ Đông, Đoài của xã Quảng Lộc và một phần xã Quảng Hòa bây giờ.
Thượng thư Đại hành khiển Trần Bang Cẩn không những là vị tướng có công đối với đất nước trong việc đánh giặc mở mang bờ cõi, mà đối với người dân và vùng đất đôi bờ hạ lưu sông Gianh, ông là vị Thành hoàng được nhiều dòng họ tôn thờ.
Ông Nguyễn Duy Kháng, Trưởng làng Vĩnh Lộc (xã Quảng Lộc) cho biết, có một điều rất đặc biệt là mặc dù Thành hoàng Trần Bang Cẩn không để lại hậu duệ và gia tộc, nhưng cả làng, cả vùng luôn tỏ tấm lòng tôn kính với ngài. Hàng năm cứ vào ngày 1-12 (âm lịch), 23 dòng họ trong làng đều tập trung tại điện Thành hoàng để làm lễ tảo mộ cho ngài trước khi về tảo mộ riêng tại các dòng họ.
“Đặc biệt, vào ngày giỗ vị Thành hoàng, bên cạnh việc cúng tế, rước sắc, có làm lễ diễn lại sự tích lịch sử của vị Thành hoàng, theo đó có nhiều trò vui chơi giải trí và hát xướng. Việc thờ cúng này hàng trăm năm qua vẫn được người dân trong vùng bảo lưu cho đến ngày nay, là một dạng tín ngưỡng khá đặc biệt, mang nhiều yếu tố dân dã, là môi trường tốt góp phần làm cho xu hướng nghệ thuật dân gian nảy nở và phát triển, làm đậm đà bản sắc văn hóa của làng Vĩnh Lộc.”, ông Kháng chia sẻ.
Thần tổ họ Hồ khai canh vùng đất ven biển
Nếu như Thượng thư Đại hành khiển Trần Bang Cẩnlà người có công mở mang miền đất sông Gianh thì Hồ Cưỡng, vị tướng có công bảo vệ vùng biên ải của Đại Việt và là người khai hoang lập ấp vùng đất biên ven biển Quảng Bình.
Theo Wikipedia, Hồ Cưỡng tên chữ là Hồ Phúc Thiện, tên thường gọi là Hồ Hồng, tên húy là Hồ Cưỡng. Ông sinh vào khoảng niên hiệu Đại Trị (1358 – 1369), đời vua Trần Dụ Tông. Ông từng làm Giám quân Tả Thánh Dực và làm Đại trị châu lộ Diễn Châu (thuộc Châu Hoan – Nghệ Tĩnh), nơi từng là hậu cứ quan trọng của nhà nước Đại Việt trong mọi cuộc kháng chiến chống xâm lăng. Hồ Cưỡng xuất thân trong một dòng họ có danh tiếng.
Gia phả họ Hồ làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An ghi: “Họ Hồ làng Quỳnh Đôi là di duệ của cụ Hồ Hưng Dật, một trại chủ ở hương Bào Đột, xuất hiện từ thế kỷ X… Hồ Cưỡng là con vị tướng Hồ Kha, cháu 13 đời của vị tướng Hồ Hưng Dật. Hai cha con Hồ Kha, Hồ Cưỡng dời xuống Hoàn Hậu khai khẩn lập nên trang Thổ Đôi, sau này gọi là xã Quỳnh Đôi.”
Trong những năm cuối thời Trần, mảnh đất phên dậu phía Nam của Đại Việt không yên ổn, chiến tranh giữa Đại Việt và Chiêm Thành thường xuyên xảy ra. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Quý Dậu năm thứ 6 (1393), mùa xuân tháng giêng lấy Hồ Cưỡng làm Giám quân tả thánh dực (Cưỡng người ở Diễn Châu, Lê Quý Ly (tức Hồ Quý Ly) ngầm tìm được dòng dõi họ Hồ định đổi theo họ cũ mới đem Cưỡng làm người tâm phúc)”.
Cửa sông Nhật Lệ, nơi diễn ra nhiều trận chiến thắng huyền thoại của danh tướng Hồ Cưỡng.
Cuối thế kỷ XIV, Hồ Cưỡng được Lê Quý Ly, lúc bấy giờ với tước Đại vương của triều đình phong làm Chánh đội trưởng chỉ huy một đạo quân trên hai ngàn người vào đánh Chiêm Thành, trấn giữ miền Thuận Hóa. Ngoài việc đánh giặc giữ yên biên cõi, ông còn chiêu dân lập ấp, khẩn hoang, mở mang sản xuất, ông trở thành thần tổ của họ Hồ khai canh vùng đất ven biển Quảng Bình như Hải Trạch, Lý Trạch, Nam Trạch, đặc biệt là Nhân Trạch (huyện Bố Trạch).
Để ghi nhớ công lao của vị thần tổ họ Hồ đối với các thế hệ con cháu ở Quảng Bình, trong miếu thờ khuôn viên lăng mộ họ Hồ ở vùng Lý-Nhân-Nam có câu “Thần hiển khai khẩn Lý- Nhân -Nam”. Trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử dân tộc mà đặc biệt là vùng đất phên dậu Quảng Bình, biên giới của hai quốc gia một thời đã chứng kiến sự đấu tranh sinh tồn của con cháu họ Hồ và các dòng họ khác tại vùng đất mới với quân Chiêm Thành để mở mang, phát triển. Họ đã đóng góp công sức trong cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước thời bấy giờ.
Hồ Cưỡng là một vị tướng tài, chỉ huy đánh thắng nhiều trận. Các thế hệ con cháu họ Hồ vùng Lý–Nhân – Nam của huyện Bố Trạch vẫn truyền tụng những trận chiến thắng huyền thoại trên vùng cửa sông Nhật Lệ với các trận đánh như hồ Bàu Tró, Phú Hội…
Bánh xoài hay bánh tráng xoài là đặc sản nổi tiếng khi đi Nha Trang, có vị chua thanh, ngọt vừa, phảng phất mùi thơm tự nhiên của xoài, rất thích hợp để ăn chơi chơi.
Món bánh tráng xoài xuất hiện từ khoảng những năm 1980 ở Cam Ranh, vùng đất vốn được mệnh danh là xứ sở của xoài. Xoài ở đây đa phần là giống xoài canh nông, quả tròn, khi chưa chín rất chua nhưng chín vàng thì ngọt đậm và sắc. Lúc xoài chín rộ không bán kịp, người dân đã có sáng kiến chế biến thành món bánh có thể dùng được quanh năm và dần dần bánh xoài trở thành món đặc sản nổi tiếng của nơi đây.
Bánh xoài là đặc sản nổi tiếng của Nha Trang.
Cách làm món này không quá cầu kỳ. Những quả xoài chín được đem rửa sạch, bỏ vỏ, bỏ hạt còn phần thịt xoài được làm nhừ thành một hỗn hợp sền sệt. Sau đó bắc hỗn hợp lên bếp, cho thêm chút nước đường, gừng tươi giã nhỏ, liên tục khuấy đều trong khoảng ba tiếng cho đến khi sôi và đặc sệt lại. Công đoạn này sẽ giúp tăng độ ngọt và độ cô đặc của thành phẩm. Người chế biến cần canh kỹ vì nếu hỗn hợp này cháy khét hay dính nồi thì bánh sẽ bám mùi không thơm.
Tiếp đến là khâu tráng bánh, phải khéo léo sao cho miếng bánh đều và mỏng tang. Có người lót một miếng bánh tráng mỏng bên dưới rồi múc hỗn hợp xoài để lên trên sao cho lớp xoài dày khoảng gấp đôi miếng bánh tráng. Làm vậy thì bánh khô nhanh hơn và phơi xong không mất công gỡ bánh ra. Cách thường thấy là rửa sạch nong, nia hay khuôn thép, lót nilon lên rồi thoa một chút dầu chống dính lên mặt nilon, tiếp đó đổ hỗn hợp xoài lên.
Kế đó người ta đem phơi hai đến ba nắng để bánh khô. Bánh xoài không cần khô giòn mà chỉ cần phơi cho se lại, ráo bề mặt, sờ vào không dính tay, có thể nhấc bánh lên là được.
Bánh tráng xoài phơi xong có nơi sẽ được cắt ra thành miếng hình chữ nhật vừa phải hoặc có nơi để miếng to tầm 30-40 cm, bọc trong túi nilon để bảo quản.
Bánh tráng xoài phơi xong sẽ được cắt ra thành miếng hình chữ nhật vừa phải và bọc trong túi nylon để bảo quản. Bánh ngon là miếng bánh vàng ươm, màu vàng không đậm đen cũng không quá nhạt, mềm dai, dễ xé, có vị chua ngọt thơm ngon tự nhiên của xoài, không ngọt gắt vị đường. Ngoài ra bề mặt miếng bánh ngon sẽ trơn láng, chỉ hơi mịn. Nếu quá mịn chứng tỏ bánh bị pha nhiều bột mì trong quá trình chế biến.
Món đặc sản này không cần bất kỳ chất bảo quản nào vẫn có thể giữ được rất lâu trong điều kiện bình thường, giá từ 70.000 đến 90.000 đồng một kg và thường được chia thành nhiều bịch 200 g tiện lợi. Bạn có thể ghé đến Chợ Đầm hay bất kỳ gian hàng bán đặc sản nào ở Nha Trang để mua bánh tráng xoài về làm quà.
Mảnh đất ấy – làng Mỹ Lộc xưa (huyện Lệ Thủy – du lịch Quảng Binh) mang trong mình tinh hoa, trù mật, cốt cách và dáng dấp của một miền quê vùng sông nước. Vậy nên, không khó để nhận ra rằng những tinh hoa của nếp đất, hương quê đã vận vào bao thế hệ con người nơi đây, sản sinh ra nhiều danh nhân mà tên tuổi của họ sống trọn qua nhiều thế kỷ.
Theo sử sách cũ, làng Mỹ Lộc xưa (nay là hai thôn Mỹ Lộc Thượng và Mỹ Lộc Hạ, xã An Thủy – PV (du lịch Quảng Binh) ra đời từ năm 1385 – 1400. Đây là một trong những ngôi làng được thành lập đầu tiên của huyện Nha Nghi (sau là huyện Lệ Thủy – du lịch Quảng Binh).
Danh nhân Võ Khắc Triển – vị Tiến sỹ nho học cuối cùng của Việt Nam. Du lịch Quảng Binh
Thời điểm ấy, Mỹ Lộc có tên là Kẻ Sóc. Trải qua bao biến cố của lịch sử, mảnh đất ấy được đổi tên nhiều lần. Năm 1470, vua Lê Thánh Tông cho lập bản đồ vùng cực Nam nước Đại Việt nên đổi thành xã Phúc Lộc, huyện Khang Lộc, rồi một thời thuộc huyện Phong Lộc, Phong Đăng, Phong Phú.
Mãi đến năm 1831, vua Minh Mạng của triều Nguyễn đổi tên nơi này thành xã Mỹ Lộc, thuộc tổng Mỹ Lộc, huyện Lệ Thuỷ. Năm 1946, dưới chỉnh thể nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã chia làng Mỹ Lộc thành 2 thôn là Mỹ Lộc Thượng và Mỹ Lộc Hạ, thuộc xã Minh Khai rồi xã Phong Thuỷ, đến nay là xã An Thuỷ (du lịch Quảng Binh).
Trải qua mấy trăm năm lịch sử, như dòng sông Kiến Giang (du lịch Quảng Binh) suốt đời bồi đắp, tưới tắm phù sa, miền quê neo mình bên bờ sông này cũng vun vén cho truyền thống văn hóa, khoa bảng của mình một bề dày hiếm có.
Ông Võ Thanh Tùng (An Thủy, Lệ Thủy – du lịch Quảng Binh) được coi là “người chép sử làng”, khi mấy chục năm qua, ông vẫn miệt mài tìm hiểu, nghiên cứu truyền thống lịch sử của vùng quê Mỹ Lộc. Ông bảo, Mỹ Lộc xưa là một vùng đất đặc biệt, nổi tiếng với truyền thống khoa bảng khi thời phong kiến, làng có đến 7 vị tiến sỹ. Truyền thống ấy được kết tinh qua nhiều thế hệ, làm nên một bề dày mà không phải miền quê nào cũng có được.
“Trong 7 vị, có 2 vị thuộc đời nhà Lê là ông Nguyễn Đình Cầu và ông Nguyễn Đình Giao. Tiếp đến là 5 vị tiến sỹ đều thuộc dòng họ Võ Khắc là Võ Khắc Minh, Võ Khắc Bi, Võ Khắc Kế, Võ Khắc Nhụy và Võ Khắc Triển”, ông Tùng cho biết thêm.
Nổi bật nhất trong số những danh nhân làng Mỹ Lộc (du lịch Quảng Binh) thời điểm ấy, phải kể đến ông Võ Khắc Triển – người được coi là vị tiến sỹ nho học cuối cùng của triều đại phong kiến. Ông sinh năm 1883. Thời còn đi học, ông nổi tiếng là người thông minh, học giỏi. Ông đỗ tiến sỹ vào năm 1919. Ngay khi làm quan hay lui về quê nhà, ông vẫn một lòng giữ tấm lòng son sắt, yêu nước, thương dân.
Tại hội thảo Võ Khắc Triển – Tiến sỹ nho học cuối cùng của Việt Nam, Giáo sư, AHLĐ Vũ Khiêu đã dành những lời trân trọng cho vị danh nhân đất Mỹ Lộc: “Cụ Võ Khắc Triển xứng đáng là người tiêu biểu cho trí thức Việt Nam. Cụ đã mang hết tài năng và trí tuệ của mình để phục vụ Tổ quốc dù trong bất cứ hoàn cảnh nào… Giữa những tầng lớp quan lại phần đông chỉ biết vinh thân, phì gia, cụ đã “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Lúc nào cụ cũng giữ được tâm hồn trong sáng của người trí thức Việt Nam”.
Đường về làng Mỹ Lộc hôm nay. Du lịch Quảng Binh
Nổi tiếng là vùng đất địa linh nhân kiệt, Mỹ Lộc xưa (du lịch Quảng Binh) còn có 7 vị cử nhân tại các khoa thi thời phong kiến, gồm: Võ Trọng Bình, Võ Bá Điêm, Võ Trọng Trinh, Phạm Hữu Diện, Võ Văn Tuấn, Võ Dông và Ngô Mậu Trực.
Đất Mỹ Lộc gắn với tên tuổi của danh nhân Võ Trọng Bình (1808 – 1899). Ông thi đỗ cử nhân năm Minh Mạng thứ 15 (Giáp Ngọ – 1834). Địa chí Lệ Thủy chép lại rằng sau khi đỗ đạt, Võ Trọng Bình được triều đình bổ đi làm quan Tri huyện tại tỉnh Quảng Nam. Con đường quan lộ của Võ Trọng Bình khá hanh thông. Nhờ sự mẫn cán trong công vụ và nổi tiếng thanh liêm, ông luôn được triều đình tin tưởng và trọng dụng. Năm 1848, khi đang giữ chức Phủ Doãn tỉnh Thừa Thiên, ông được vua Tự Đức ban tặng cho bức Đại hạng tự kim với 4 chữ: Liêm, Bình, Cần, Cán. Nửa thế kỷ làm quan, Võ Trọng Bình ở đâu cũng có nhiều công tích. Là vị quan có bản lĩnh cứng rắn, tiết nghĩa và hành xử nghiêm minh, chính trực, ông nổi tiếng với khả năng hành chính. Trong những năm đó, vị quan ấy đã từng dâng sớ đòi thay đổi và hạch tội quan lại tham nhũng, đồi tệ, miễn tội cho kẻ phạm tội đã ăn năn đầu thú, giảm thuế công điền cho một số tỉnh gặp khó khăn. Tuy làm quan lâu năm và được triều đình tin dùng nhưng Võ Trọng Bình vẫn giữ được đức tính thanh liêm. Truyền rằng, khi vua Hàm Nguy xuất bôn, gửi lại cho ông một số vàng bạc. Sau này, Hàm Nghi bị lưu đày sang châu Phi, Võ Trọng Bình đã đem số vàng bạc này bỏ xuống đáy sâu Phá Hạc Hải. Noi gương cha, hai người con của ông là Võ Bá Điêm và Võ Trọng Trinh đều học hành giỏi giang, đỗ cử nhân và trở thành những vị quan liêm chính của triều đình nhà Nguyễn.
Cụ Võ Thanh Tùng khẳng định truyền thống hiếu học, khoa bảng của đất Mỹ Lộc xưa đã trở thành niềm tự hào cho bao thế hệ con cháu đất này. Mạch nguồn truyền thống ấy vẫn được nối dòng khi trải qua năm tháng, ngay cả khi chiến tranh hay đói khổ, đất Mỹ Lộc vẫn nổi danh bởi tinh thần hiếu học. Con em nơi làng quê này vẫn cần mẫn với sự nghiệp đèn sách. Trong đó, không ít người đỗ đạt.
Dẫu Mỹ Lộc (du lịch Quảng Binh) xưa nay tách thành hai làng Mỹ Lộc Thượng và Mỹ Lộc Hạ nhưng như dòng Kiến Giang vẫn muôn đời thao thiết chảy, mảnh đất ấy vẫn xứng đáng với những lời Dương Văn An trân trọng viết trong sách Ô Châu cận lục: đất “văn chương thì lắm vẻ, học vấn lại vô cùng”.
Xã miền núi Minh Hóa (huyện Minh Hóa – du lịch Quảng Binh) mang trong mình những nét văn hóa truyền thống đặc sắc. Và trên mảnh đất này vẫn còn đó những địa danh mang nhiều giá trị văn hóa, lịch sử. Đến nay, người Minh Hóa vẫn gìn giữ, bảo tồn đình Kim Bảng và hang lèn Cây Quýt như những chứng tích hào hùng của lịch sử chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
Theo những bậc cao niên ở đây, đình Kim Bảng xây dựng từ năm 1924 đến năm 1925. Ban đầu, đình được làm bằng gỗ, mái lợp tranh, trên nền đất. Đình có 2 phần: đình Tiền và đình Hậu.
Theo ông Cao Đình Ký (thôn Kim Bảng, Minh Hóa), ngôi đình gần trăm năm tuổi này là niềm tự hào của bao đời người dân làng quê Kim Bảng. Bởi nơi đây mang trong mình những dấu ấn lịch sử và ghi dấu những chiến công hào hùng của dân làng trong hai cuộc kháng chiến.
“Trong kháng chiến chống Pháp, đình bị máy bay địch bắn cháy. Trong kháng chiến chống Mỹ, đình lại bị thiêu rụi dưới sức tàn phá của bom napan. Đình Kim Bảng hiện đã được trùng tu, xây mới ngay trên nền đất cũ nhưng vẫn mang dáng dấp của ngôi đình xưa”, ông Ký cho biết thêm.
Đình Kim Bảng nằm ở vị trí thuận lợi, giữa một vùng đất khá rộng và bằng phẳng. Từ Kim Bảng, theo các con đường bí mật xuyên rừng có thể tỏa về các ngả tắt lẩn tránh khi có biến cố. Cạnh đình làng còn có các hang lèn, như: hang Cây Quýt, hang Diêm rộng và sâu, có thể tổ chức cho vài trăm người hội họp phòng khi bất trắc.
Chính bởi địa thế vừa thuận lợi, vừa bảo đảm các yếu tố bí mật, an toàn, chủ động ứng phó với mọi tình huống có thể xảy ra mà đình Kim Bảng được Tỉnh ủy Quảng Bình quyết định chọn làm nơi tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ II Đảng bộ tỉnh du lịch Quảng Binh từ ngày 16 đến ngày 19-5-1949.
Đình Kim Bảng nằm ở vị trí thuận lợi, giữa một vùng đất khá rộng và bằng phẳng.
Theo ông Trương Ngọc Đương, nguyên Trưởng ban Tuyên giáo Huyện ủy Minh Hóa, Đại hội Đảng bộ tỉnh du lịch Quảng Binh lần thứ II ban đầu định tổ chức tại Phúc Sơn, xã Đức Hóa, nhưng địa điểm này ở bên bờ sông Gianh dễ bị ca nô của địch chạy lên bắn phá nên tỉnh quyết định dời về Kim Bảng. Về Kim Bảng có 2 địa điểm, một địa điểm chính thức tại đình, địa điểm dự bị đặt ngoài hang lèn Cây Quýt. Nếu địch đánh phá ta rút lui ra ngoài hang lèn Cây Quýt.
“Đại hội bí mật cho nên tất cả đều bí mật. Đại hội ở Kim Bảng được nhân dân Minh Hóa ủng hộ nhà cửa cho đại biểu ở. Trong thời gian diễn ra Đại hội, nhân dân ủng hộ 30 ong bồi, một món ăn đặc trưng của người Minh Hoá cho đại biểu ăn sáng. Tỉnh hỗ trợ thêm nếp và thịt heo nên đại biểu về dự ăn uống đầy đủ chất”, ông Đương kể lại.
Với sự tham gia của 90 đại biểu đại diện cho gần 5.000 đảng viên trong toàn Đảng bộ, Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Bình lần thứ II đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ gồm 20 đồng chí. Đồng chí Võ Thúc Đồng được bầu giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình. Đại hội đã đưa ra nhiều chủ trương, đường lối, chương trình, nghị quyết hành động cụ thể, trong đó có chủ trương “Hạ sơn, dời chuyển chiến khu về đồng bằng, bám dân, bám đất để kháng chiến”.
Với nhiều quyết sách quan trọng, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Bình lần thứ II được coi là bước ngoặt có ý nghĩa lịch sử vô cùng to lớn trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân du lịch Quảng Binh, góp phần cùng với cả nước đưa cuộc kháng chiến nhanh đến ngày thắng lợi.
Cùng với đình Kim Bảng, hang lèn Cây Quýt là một trong những điểm dừng chân thú vị, gợi nhiều giá trị lịch sử. Ngày nay, để thuận lợi cho việc lên xuống, đi vào đi ra hang lèn này, người ta đã xếp đá thành bậc cấp tạo lối đi lên hang. Hang lèn Cây Quýt nằm cách đình Kim Bảng khoảng 500m, có cửa hang rộng chừng 10m. Hang có chiều cao trung bình khoảng 3m, bề rộng 15,5m và chiều sâu 22m.
Năm xưa, hang lèn này đã được sử dụng trong những ngày diễn ra Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh du lịch Quảng Binh lần thứ II. Cũng tại hang lèn Cây Quýt tháng 9-1964 đã diễn ra hội nghị quân chính của Sư đoàn 325A để ổn định tổ chức chuẩn bị vào Nam chiến đấu.
Năm 1968, huyện Minh Hóa tổ chức mừng công bắn rơi chiếc máy bay thứ 3.000 của Mỹ trên miền Bắc. Và thời gian sau đó, hang lèn Cây Quýt là nơi làm kho cất giấu 400 tấn lương thực cho cuộc kháng chiến chống Mỹ.
“Là địa điểm dự phòng cho Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Bình lần thứ II nhưng sau đại hội, hang lèn Cây Quýt vẫn tiếp tục phát huy giá trị của nó, là địa điểm để tổ chức hội nghị cán bộ quân dân chính đảng toàn huyện Minh Hóa để rút kinh nghiệm về sản xuất, chiến đấu trong thời kỳ chống Mỹ. Bên hang đây có Trường nông nghiệp của huyện, nếu bị giặc đánh phá thì các lớp học sẽ rút vào đây trú ẩn”, ông Đương cho biết thêm.
Chính bởi địa thế thuận lợi, an toàn, đình Kim Bảng được chọn nơi diễn ra nhiều sự kiện quan trọng của tỉnh.
Theo cuốn Quảng Bình di tích danh thắng, một nhà khảo cổ học người Pháp đã từng đến hang lèn Cây Quýt khai quật và nghiên cứu. Kết quả khai quật phát hiện một số hiện vật mũi nhọn như: đục vũm bằng xương và sừng hươu, nai, vỏ sò; những công cụ làm bằng đá đẽo thô sơ không có dấu mài lưỡi, hai công cụ bằng đá có dấu mài hai vệt, những hòn đá sa thạch có dấu khoét vũm, những hòn cuội khác có khắc cành lá hoa thảo, những cục quặng sắt hét-ma-ti-te, những mảnh sắt trong đống vỏ sò và những công cụ bằng sắt. Các hiện vật minh chứng rằng, con người đã gắn bó với vùng đất này từ lâu đời.
Theo nhà nghiên cứu văn hóa Tạ Đình Hà, nguyên Trưởng ban quản lý di tích và danh thắng tỉnh, thì những dấu ấn lịch sử này khẳng định người Quảng Bình thời tiền sử và sơ sử, từ văn hóa Hòa Bình, văn hóa Bàu Tró đến thời kỳ văn hóa Đông Sơn luôn mang bản sắc riêng – bản sắc của vùng đất nắng, gió du lịch Quảng Binh, bản sắc của một vùng cộng đồng dân cư có tính lao động cần cù, chịu khó, bền bỉ, tiết kiệm và thông minh, được xác lập cách đây từ trên dưới vạn năm, là ngọn nguồn tạo nên bản sắc độc đáo, văn hóa du lịch Quảng Binh hôm nay.
Trong những tháng ngày gian khổ, ác liệt của hai cuộc kháng chiến, cùng với quân dân cả nước, nhân dân Minh Hóa một lòng kiên trung với Đảng, với cách mạng, vượt lên mọi hy sinh, mất mát để phục vụ kháng chiến với niềm tin bất tử cho ngày toàn thắng.
Ròng rã những năm đánh Mỹ cứu nước, bằng sức mạnh của thế trận lòng dân, người dân Minh Hóa đã đồng cam cộng khổ, kề vai sát cánh cùng với quân và dân cả nước bảo vệ các tuyến đường để vận chuyền hàng hóa ra chiến trường, viết nên những trang sử hào hùng của dân tộc ta.
Hôm nay, những địa danh gắn với những trang huyền thoại trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ở Minh Hóa đã thành những địa chỉ đỏ, nơi lưu dấu đầy ý nghĩa về các giá trị văn hóa, lịch sử trên vùng đất giàu truyền thống cách mạng này.
Thuộc TP Đồng Hới, tỉnh du lịch Quảng Binh, biển Nhật Lệ tọa lạc tại cửa sông Nhật Lệ. Bãi biển Nhật Lệ được thiên nhiên ban tặng bãi cát trắng và nước biển trong xanh, còn mang vẻ hoang sơ. Với hàng dương lâu năm được trồng trên bờ tạo nên cảnh thi vị cho biển. Từ lâu bãi biển Nhật Lệ nổi tiếng với một vùng trời mây, sông, nước, gió lộng khí trời, khí biển mặn mà.
Biển Nhật Lệ (du lịch Quảng Binh) kéo dài một màu cát trắng, những lúc trời thanh gió mát, bãi biển sạch như nệm mới, cát mịn, cứng óng ánh có thể đạp xe hay chơi bóng đá một cách thoải mái. Từ ngoài khơi xa từng lớp sóng bạc tiến vào bờ như những chùm hoa sóng tung bọt trắng xoá trông giống chuỗi ngọc trắng đang lăn vào bờ, ngân lên những âm thanh rì rào không dứt.
“Trong nắng chiều vàng khi hoàng hôn buông xuống, biển Nhật Lệ như đang chìm trong giấc ngủ cuối ngày, khung cảnh trầm tư mà lãng mạn, ồn ào mà tĩnh lặng. Xa xa đoàn thuyền lại rộn vang tiếng nói cười trong ngày mới ra khơi, những khuôn mặt mang dấu ấn thời gian lại hiện lên một niềm vui lớn trong ngày mới”.
Khi đêm về, cửa biển Nhật Lệ sáng rực như một thành phố lung linh. Đứng xa xa nhìn về cửa biển ta thấy như hàng ngàn ánh sao.
Biển Nhật Lệ là điểm đến hấp dẫn cho Du khách khi đến tham quan Du lịch Quảng Binh, được hòa mình vào dòng nước trong xanh yên bình và đầy thơ mộng. Chắc hẳn sẽ khó quên khi đến Du lịch Quảng Binh.
Trên bờ sông Nidd, thị trấn Knaresborough ở Bắc Yorkshire, là một trong những điểm du lịch Châu Âu thu hút du khách lâu đời nhất tại Anh. Nơi này nổi tiếng có một cái giếng hóa đá từng được cho là bị ma quỷ nguyền rủa, bất cứ vật gì khi bị nước nhỏ vào cũng đều hóa thành đá.
Bề mặt giếng thoạt trông giống như một hộp sọ khổng lồ, hầu hết mọi người đều không dám đến gần vì họ tin rằng nếu chạm vào thì sẽ bị biến thành đá. Một số người đã treo nhiều vật dụng bên dưới cái giếng này, chỉ sau vài tuần, tất cả đều bị hóa thạch. Có rất nhiều thứ được khách du lịch đem treo lên như gấu bông, mũ, đồ chơi…thậm chí có cả một chiếc xe đạp cũng được mang tới đây.
Trong một tài liệu của nhà khảo cổ học John Leyland, người đã đến khảo sát cái giếng này vào năm 1538 đã viết rằng, có rất nhiều du khách tìm tới vì được người ta bảo nếu tắm dưới làn nước này, họ sẽ được chữa khỏi bệnh tật.
Theo truyền thuyết, Shipton là con gái của một người mẹ là gái mại dâm địa phương, được sinh ra trong một hang động cách không xa cái giếng bị nguyền rủa. Shipton từ nhỏ luôn bị cho là xấu xí do cha cô là quỷ dữ. Cô thường kể với mọi người về tương lai, những dự đoán của bà rất chính xác như năm 1588 phát minh ra điện thoại, năm 1666 Tây Ban Nha thất bại. Càng ngày sự nổi tiếng của cô càng vang xa, kéo theo sự nổi tiếng của cái giếng hóa đá gần đó.
Có một truyền thuyết khác kể là vào năm 1630, vua Charles I đã bán mảng đất có cái giếng này cho một quý ông địa phương có tên là Sir Charles Slingsby. Sự nổi tiếng của cái giếng với những mẫu hóa thạch khiến cho rất nhiều người tìm đến. Ông Slingsby bắt đầu tính phí cho khách tham quan, vô tình biến nơi này trở thành điểm thu hút khách du lịch đầu tiên của nước Anh.
Cuối cùng các nhà khoa học đã phân tích ra được sự kỳ diệu ẩn sau quá trình hóa đá. Nước ở đây có hàm lượng chất khoáng cao, nó sẽ kết tủa trên các vật thể khi tiếp xúc, tạo nên một lớp vỏ cứng giống như nhũ đá và măng đá hình thành trong các hang động.
Điều đáng ngạc nhiên ở đây là tốc độ hóa đá của nó, thay vì là hàng thế kỷ thì những đồ vật khi tiếp xúc với nước này, có thể hóa đá từ vài tuần cho đến 5 tháng. Gấu bông hóa đá rất nhanh, bởi nó xốp và ngấm nước nhanh nên được nhiều người treo lên đây như một kỷ vật. Bất kỳ ai đến đây thăm quan cũng đều để lại một thứ gì đó như nhẫn, quần áo, dụng cụ nhà bếp…
Du lịch Quảng Binh từ đỉnh Đèo Ngang theo quốc lộ 1A đi về hướng Nam khoảng 2km, rẽ trái theo con đường mòn gần 500m, ta sẽ tới đền Liễu Hạnh công chúa. Đền nằm dưới chân núi Đèo Ngang, ở một khu đất khá bằng phẳng, sát đường thiên lý Bắc – Nam trước đây, phía sau đền là dãy Hoành Sơn, ngay trước mặt là hồ nước ngọt của xã Quảng Đông, mặt đền quay hướng Nam cũng là hướng biển.
Đền thờ thánh mẫu Liễu Hạnh (du lịch Quảng Binh)
Trong tín ngưỡng dân gian của người Việt cũng như một số dân tộc anh em, việc tôn thờ nữ thần, thờ Mẫu là một hiện tượng khá phổ biến và có căn nguyên lịch sử xã hội sâu xa.
Việc coi trọng phụ nữ, coi trọng vai trò người mẹ, người vợ ở nước ta, một truyền thống tốt đẹp và có sức sống mãnh liệt của văn hóa dân gian. Chính là cơ sở chính trị và xã hội, cơ sở tinh thần và tâm linh, đã hình thành và phát triển tục thờ nữ thần, tục thờ các bà mẹ, các Mẫu, một tục có từ thời Văn Lang, Âu Lạc và còn truyền lại cho đến ngày nay, chính là tục thờ thần của người Việt cổ.
Đền thờ Thánh mẫu Liễu Hạnh ở Đèo Ngang, du lịch Quảng Binh vừa có sự tích riêng, vừa là hình tượng Mẫu Liễu Hạnh chung trong đời sống tâm linh của nhân dân ta.
Vì vậy, theo sách kho tàng truyện cổ tích Việt Nam tập IV – của Nguyễn Đổng Chi kể rằng: ’’Ngày xưa ở trên Thiên Đình, Ngọc Hoàng có một cô con gái tên là Liễu Hạnh, tính tình phóng túng, ngang bướng, không chịu theo khuôn phép nhà Trời. Ngọc Hoàng hết lòng dạy dỗ nhưng vô ích, cô vẫn chứng nào tật ấy. Giận vì trong nhà có con gái hư, không thể làm gương cho muôn họ, Ngọc Hoàng quyết định trị tội để cho con tu tỉnh.
Đền thờ thánh mẫu Liễu Hạnh (du lịch Quảng Binh)
Nhân một lần Liễu Hạnh phạm lỗi, Ngọc Hoàng liền đày xuống trần trong thời hạn ba năm. Sau khi xuống trần, Liễu Hạnh hóa thân thành một cô gái xinh đẹp, dựng một lều quán ở chân núi Đèo Ngang. Đây là nơi rừng núi vắng vẻ nhưng cũng là nơi có con đường Thiên lý Bắc – Nam vắt qua nên hằng ngày không bao giờ ngớt khách bộ hành qua lại. Từ xưa đến nay, vì sợ giặc cướp và thú dữ, không một ai dám đến đó mở quán bán hàng. Vì vậy ngôi hàng độc nhất của Liễu Hạnh ngày nào cũng đông khách.
Bất kỳ ai lên xuống Đèo, đã đi qua quán, không thể không ghé đến nghỉ chân, huống gì trong quán lại có thêm cô gái tuyệt sắc.
Từ khi bị đày, Liễu Hạnh vẫn chưa từ bỏ được nết cũ, khinh mạn và trêu chọc mọi người. Cho nên, hễ ai vào quán ăn bánh uống nước rồi tiếp tục ra đi thì không sao; nhưng nếu thấy chủ quán xinh đẹp mà giở thói cợt nhã hoặc có ý cậy sức, cậy thế cậy thần làm điều bất chính thì nàng quyết trị tội, không tha, lúc trở về không lăn ra chết cũng trở thành điên rồ ngây dại.
Hồi ấy là thời Vua Lê Thái Tổ trị vì thiên hạ, tiếng đồn về người con gái đẹp một mình mở quán ở Đèo Ngang, không mấy chốc đã lan truyền rất rộng. Khắp nơi bàn tán xôn xao, người thì nói chủ quán là một cô gái võ nghệ hơn đời, mình nàng địch nổi trăm người một lúc; kẻ thì cho nàng là một ả giang hồ thành thạo, không những giỏi quyến rũ trai tơ mà còn làm nhiều nghề không lương thiện khác cũng có người cho cô là một nàng tiên xuống thử người phàm trần. Mỗi người nói một phách, không biết thế nào mà tin. Nhưng tiếng đồn gần xa về cô chủ quán Đèo Ngang cũng thu hút vô số chàng trai vô công rồi nghề từ làng quê đến kẻ chợ.
Hoàng tử con vua Lê bấy giờ đang trẻ người non dạ, nghe tin ấy bụng cũng say mê. Hoàng Tử muốn sai quân lính đi bắt ngay người con gái kia về nhưng vốn biết tính vua cha rất nghiêm khắc, làm náo động cả một phương là chuyện không bao giờ nhà vua cho phép; vả lại, nghe nói người con gái ấy đã giỏi võ nghệ lại có nhiều phép thuật nên cũng ngần ngại. Sau cùng, không ngăn nổi lòng ao ước và tính tò mò. Một hôm, Hoàng tử giấu Vua cha và Hoàng Hậu, sắm sửa cáng xá hành lý, đóng vai một nhà quý tộc trẻ tuổi, dẫn đoàn thị vệ cải trang ra đi. Sau hơn mười mấy ngày đường, vượt qua Sông Lam rồi núi Nam Giới, Hoàng tử sắp bước chân lên dãy đèo cao nhất.
Từ Đèo Ngang (du lịch Quảng Binh), Liễu Hạnh đã biết có Hoàng tử đến tìm mình, lại cũng biết đó là chàng trai tầm thường, không có bản lĩnh gì mà lại kiêu căng, dật lạc. Để ngăn cản, nàng hóa phép thành một cây đào tiên mọc bên vệ đường, chỗ Hoàng tử đang nghỉ chân, trên cây có một quả chín mộng. Hoàng tử chợt thấy quả đào đã thèm nhỏ dãi, không đợi sai lính hầu vội trèo lên ngắt xuống toan ăn.
Quả đào đang thơm ngát và ngon lành, bỗng đâu khi sắp đưa vào miệng thì trở nên mềm nhũn trên tay Hoàng tử, rồi thu nhỏ, cuối cùng mất biến không còn tý gì nữa. ’’Quả đào này có ma! ’’ – bọn thị vệ kinh hãi la lên và khuyên Hoàng tử hãy nên cẩn thận. Hoàng tử cảm thấy rờn rợn nhưng vì vẫn không thấy được ý nghĩa răn đe kín đáo của Liễu Hạnh nên một lúc sau, chàng lại giục phu cáng, tiếp tục đi nhanh đến chân đèo.
Khi giáp mặt Liễu Hạnh, quả nhiên cả thầy lẫn tớ thảng thốt sửng sờ. Chưa bao giờ Hoàng tử lại mê mẩn đến như thế, người con gái này quả có nhan sắc kiều diễm đúng như lời đồn, trong cung vua cha dễ không một người nào sánh kịp. Hoàng tử bèn kín đáo hạ lệnh cho cả đoàn dừng chân ở quán, lân la hết ăn lại uống, kéo dài đến tận chiều, rồi khi mặt trời gần lặn, bảo với chủ nhân:
“Đường xa trời tối, chúng ta muốn nghỉ lại ở đây một đêm. Chẳng hay nữ chủ nhân có bằng lòng không?
Liễu Hạnh đã thừa rõ tâm tư của Hoàng tử bèn khước từ:
– Thưa công tử, ở đây hàng quán chật chội, vả lại chỉ có mấy chị em là đàn bà con gái, công tử và các vị ở lại sợ không tiện. Cách đây nửa dặm về phía Đông có làng xóm, xin các vị đến đó trú, sẽ có sẵn nhà cửa và dân phu phục dịch.
– Chúng tôi chỉ cần nghỉ ở lại đây thôi, nữ chủ nhân đừng lo. Chỉ cần một chỗ trong quán để căng màn là đủ. Ngoài ra, xin hứa là không làm gì phiền đến nữ chủ nhân cả.
– Nếu thế công tử cứ tùy tiện.
Tối đến, mọi người ăn cơm xong, sửa soạn đi ngủ, những phu cáng và lính hầu trải chiếu nằm la liệt giữa sân, riêng Hoàng tử đã có hai thị vệ căng trướng ở trong quán. Trời mùa hè mát mẻ trăng gió hữu tình. Dưới ánh đèn dầu, Hoàng tử vẫn dựa cột trò chuyện với nữ chủ quán không rời. Liễu Hạnh vẫn chịu khó ngồi nán lại tiếp, mỗi lời nói của nàng đều đẹp lòng khách, làm cho Hoàng tử càng thêm mê mẩn.
Chàng quên mất lời hứa, đánh rơi cả vẻ đạo mạo lúc mới tới và bắt đầu lả lơi. Liễu Hạnh cự tuyệt và bỏ chạy vào buồng. Trong cơn si mê, Hoàng tử không cần giữ thể diện nữa, bèn chạy theo vào. Có ngờ đâu chỉ trong nháy mắt, Liễu Hạnh đã biến hình phi thân lên núi, bắt một con khỉ cái về, cho hóa thành một cô gái đẹp để đánh lừa Hoàng tử. Không thấy chủ quán đâu nhưng lại có một cô gái khác trong buồng, Hoàng tử liền giở trò suồng sã.
Nhưng bỗng chốc hắn rú lên một cách ghê sợ làm cho bọn lính hầu đều tỉnh dậy, trong tay Hoàng tử không phải là một cô gái nõn nà nữa mà lại là một con khỉ cái, lông lá đầy người. Bọn lính hầu xông lại, vụt một cái, con khỉ lại biến thành một con rắn mang hoa trên người Hoàng tử vươn lên kèo nhà, há miệng phun lửa phì phì, rồi biến mất. Khi bọn lính hầu thắp được đèn lên thì Hoàng tử đã ngã vật giữa quán, nằm mê man, mặt cắt không còn một giọt máu.
Nửa đêm hôm đó, người ta cắt ngựa trạm đưa Hoàng tử về Kinh. Đến cung Hoàng tử trở nên mất trí, ai hỏi cũng không trả lời, chỉ cười nói một mình. Hoàng Hậu và các phi Thần hết sức lo sợ; một mặt cho giấu kín chuyện ’’vi hành’’ khinh suất đó, đồng thời cho người mời các bậc danh y để chửa trị cho Hoàng tử. Mặc dù vậy, các danh y đều lắc đầu bó tay. Trong cung càng thêm bối rối hoảng hốt và cuối cùng, có người mách nên vào xứ Thanh xin bùa phép ở tám vị Kim Cang họa may mới khỏi…
Lập tức bọn thị vệ được lệnh vua vào Thanh Hóa để xin bùa phép. Nhờ đó, bệnh tình của Hoàng tử mới dần dần được thuyên giảm. Sau khi bình phục, Hoàng tử cúi đầu nhận tội với vua cha, kể lại cho vua cha nghe mọi chuyện với nữ chủ quán ở Đèo Ngang.
Vua Thái Tổ hết sức giận dữ vì Hoàng tử đã dám khinh thường lệnh vua, rời phủ đi chơi, hãm mình vào cảnh thân tàn ma dại nên phế bỏ ngôi vị Thái tử của Hoàng tử lập người con thứ lên thay. Nhưng nhà vua còn tức giận hơn bởi trên bờ cõi mình trị vì, lại có một người con gái dám khinh thường phép nước, vua bèn ban lệnh hỏi quan trấn thủ xứ Nghệ về lai lịch nữ chủ quán Đèo Ngang. Sau một thời gian cất công dò la, quan Trấn thủ gửi sớ về tâu rằng đó là một nữ yêu không biết từ đâu đến, hay bắt hồn đàn ông con trai, nếu không có phép cả tài cao thì khó lòng khuất phục.
Nhà vua lại ra lệnh cho mời các pháp sư, thầy phù thủy cao tay đi trừ yêu nhưng chẳng bao lâu, họ đã trở về xin chịu tội vì chẳng những không trị nổi yêu quái mà ngược lại mọi phép trổ ra đều bị Liễu Hạnh thu mất cả. Vua lại cầu cứu tám vị Kim Cang phi thân vào Đèo Ngang. Được tin chẳng lành, Liễu Hạnh liền ra ứng chiến và cuộc chiến đấu dần dần trở nên dữ dội, mưa dồn gió giật rất khủng khiếp, cây đổ khắp lượt, tám vị Kim Cang tràn vào, vây lấy Đèo Ngang.
Liễu Hạnh cũng hóa phép chống lại, nàng làm cho cây rừng đã đổ rồi đứng dậy cùng với đất đá bay rào rào. Thấy Liễu Hạnh pháp thuật cao cường, tám vị Kim Cang lại hóa phép làm cho thú dữ tập hợp lại, nhe nanh múa vuốt xông vào hàng đoàn toan cắn xé, nhưng Liễu Hạnh đã kịp thời bay lên không trung rồi dùng phép tiêu diệt hết bầy mãnh thú.
Trận đánh diễn ra ba ngày đêm, Đèo Ngang trở thành một bãi chiến trường rùng rợn và vô cùng ác liệt. Mọi phép thuật của cả hai bên lần lượt giở ra mà vẫn bất phân thắng bại. Về sau, tám vị Kim Cang biết mình bất lực bèn bay lên Trời khẩn cầu Phật Bà. Phật Bà ném cho họ một cái túi, quả nhiên Liễu Hạnh sa lưới, lọt vào túi đó. Tám vị Kim Cang mang túi về kinh báo tiệp, vua lập tức ra sân điện tra hỏi:
– Người là ai?
– Tâu bệ hạ, là con Ngọc Hoàng bị đày xuống cõi trần, lấy vùng Đèo Ngang làm nơi trú ngụ.
– Là con ngọc Hoàng sao lại dám phá phách dân sự và làm hại Hoàng tử con ta?
– Việc trừng trị bọn con trai chọc ghẹo nhi nữ, ăn hiếp người cô đơn là tuân theo phép nước, không phải là phạm phép nước.
Nghe Liễu Hạnh nói là con gái Ngọc Hoàng, lại thấy tài đối đáp khôn ngoan, vua đổi giận làm vui cho nên sau cuộc thẩm vấn, vua hạ lệnh tha bổng, chỉ khuyên nàng đừng gây náo động và làm hại dân lành’’.
Qua truyền thuyết dân gian về công chúa Liễu Hạnh, chúng ta thấy đó là một niềm tin và sự cầu mong về một lẽ công bằng của nhân dân. Hay có thể nói ngược lại: Chính niềm tin và sự cầu mong ấy là tiền đề để nảy sinh ra một câu chuyện thần kỳ tức là câu chuyện về công chúa Liễu Hạnh. Con đường để hình thành truyền thuyết về Đức Thánh Mẫu cũng là những con đường đã hình thành nên truyền thuyết về các vị thánh và các vị linh thần khác. Đó là con đường của sáng tác dân gian hoặc con đường dân gian hóa những tác giả, những tác phẩm cụ thể…
Công chúa Liễu Hạnh đã để lại một hình ảnh mẫu mực xứng đáng là tấm gương và cái đích cần vươn tới của các thế hệ phụ nữ Việt Nam.
Đền Liễu Hạnh công chúa ở Đèo Ngang có diện tích khoảng 335m2. Từ đường thiên lý Bắc – Nam đi vào, lần lượt qua cổng đền, bức bình phong, cổng Tam quan, hai trụ đầu lân trước điện thờ, đền Tiền, đền Hậu.
Nhìn tổng thể kiến trúc của đền, chúng ta thấy đây là một công trình kiến trúc tuy nhỏ, được xây dựng bằng đá, gạch, vôi nhưng vẫn mang truyền thống mỹ quan á Đông và bảo lưu được bản sắc văn hóa dân tộc. Điều này được thể hiện qua kết cấu cổng tam quan được bố trí một cách đối xứng, cân đối và hài hòa, sự cân xứng và đăng đối, hài Hòa ở đây là nói lên sự trung chính, ngay thẳng và cũng là ước mơ của con người. Mặt khác, lối cấu trúc cân xứng, đăng đối và hài Hòa đó còn tạo ra vẽ đẹp cho kiến trúc, nghệ thuật và thể hiện sự trang nghiêm của cả công trình kiến trúc đền.
Đền thờ thánh mẫu Liễu Hạnh (du lịch Quảng Binh)
Nhìn tổng quan, chúng ta có thể thấy được sự tài hoa về kỹ thuật xây dựng, về hội họa, tài ghép sành sứ của con người ở đây. Chủ đề trang trí với đền thường gắn liền với những quan niệm, tư tưởng và những ước mơ hoài vọng tốt đẹp của xã hội phong kiến Việt Nam nói riêng và cư dân văn minh nông nghiệp lúa nước phương Đông nói chung. Đó là các hình tượng như Tứ Linh (long, lân, quy, phụng), tứ thủ (cầm, kỳ, thi, họa), tứ quý (tùng, trúc, mai, sen) và nhiều biểu tượng cúc hóa long, mai hóa long, tùng hóa long…
Đặc biệt, nhìn vào bố cục kiến trúc của đền được sắp xếp theo thứ tự từ thấp đến cao theo một trục dọc, cân đối và đăng đối, chính bố cục này đã làm thêm phần trang nghiêm của đền Liễu Hạnh công chúa.
Đền Liễu Hạnh công chúa ở Đèo Ngang nằm trong cụm di tích-danh thắng Đèo Ngang (Hoành Sơn Quan, lũy Hoàn Vương, đình Vĩnh Sơn, Hòn La…). Đây là cụm di tích còn tiềm ẩn nhiều khả năng trong việc phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh nhà.
Đền thờ Liễu Hạnh công chúa ở Đèo Ngang là điểm thờ Mẫu ở du lịch Quảng Binh và trở thành một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng văn hóa cộng đồng đối với nhân dân du lịch Quảng Binh nói riêng và nhân dân cả nước nói chung.
Đền thờ Liễu Hạnh công chúa ở Đèo Ngang (du lịch Quảng Binh) là điểm cuối phía Nam còn nguyên vẹn về kiến trúc đền thờ Mẫu Liễu Hạnh như tục thờ Mẫu ở Phủ Giầy. Đền thờ như một minh chứng cho sự tích Liễu Hạnh công chúa ở Đèo Ngang (du lịch Quảng Binh), trong truyền thuyết dân gian đã có từ lâu đời. Chính vì vậy, di tích đền Liễu Hạnh công chúa ở Đèo Ngang, xét về quy mô, phong cách và vị trí của nó trong lịch sử phát triển của dòng tín ngưỡng dân gian Việt rất xứng đáng để chúng ta trân trọng, bảo tồn.
Hiện nay Đến thờ thánh mẫu Liễu Hạnh là điểm đến hấp dẫn của Du lịch Quảng Binh. Cùng lên kế hoạch du lịch Quảng Binh và ghé đến đây nhé!
Bánh dứa, thịt khô, xúc xích tươi hay hồng dẻo đều là những món ngon có thể mua về làm quà cho người thân, bè bạn sau chuyến du lịch Singapore của bạn.
Đến du lịch Singapore, ngoài những món đồ lưu niệm hình chú sư tử biển Merlion nổi tiếng, bạn còn có những lựa chọn thú vị khác như thịt khô, bánh dứa, hồng dẻo… để mua về nhà cho người thân, bạn bè.
Bak Kwa (thịt khô)
Bak Kwa là món ăn vặt không chỉ được nhiều người dân bản địa ưa thích mà còn được lòng nhiều khách du lịch Singapore. Đây là món ăn có nguồn gốc từ Trung Hoa, thường được làm từ các loại thịt như thịt gà, thịt bò, thịt heo, thậm chí là thịt cá sấu sấy khô dạng lát mỏng. Bak Kwa khi ăn có vị mặn, ngọt và được chế biến theo nhiều cách như tẩm mật ong, ướp cay…
Có Bak Kwa loại được cắt miếng nhỏ, có loại lại được xay nhỏ rồi ép thành từng tấm tròn hoặc vuông mỏng, màu sắc bắt mắt, hương vị thơm ngon. Tại Singapore bạn có thể tìm mua Bak Kwa ở nhiều cửa hàng. Đặc biệt nếu ghé Chinatown, bạn có thể thấy những cửa hàng lớn chuyên bày bán mặt hàng này. Tại đây, khách hàng có thể thoải mái ăn thử các vị thịt trước khi quyết định mua. Bak Kwa thường được đóng thành từng túi sẵn hoặc bán theo lạng, thuận tiện cho nhu cầu của khách.
Thịt khô được bán theo túi đóng sẵn hoặc theo lạng. Tuy nhiên loại nào cũng có hộp hoặc bao bì đẹp đi kèm để làm quà tặng.
Bánh dứa
Nhắc đến đặc sản bánh dứa, người ta hay nghĩ đến Đài Loan. Thế nhưng hóa ra ở Singapore bạn cũng hoàn toàn có thể mua được loại bánh ngon lành này về làm quà với giá cả phải chăng. Tại Singapore, bánh dứa được bày bán rộng rãi ở nhiều siêu thị, khu mua sắm, chợ đêm… Nếu đến khu phố Tàu, bạn còn có cơ hội mua bánh ngay tại lò sản xuất.
Các viên bánh có nhiều hình dáng cho bạn lựa chọn như vuông, tròn hay thậm chí là tạo hình trái dứa mini. Mỗi hộp bánh có giá từ 6 đô Sing (khoảng hơn 100 nghìn), phù hợp mua làm quà ngay cả khi bạn không quá dư dả về ngân sách.
Các loại kẹo và socola
Ở Singapore, có một nơi có thể mang lại cho bạn cảm giác như “Alice ở xứ sở thần tiên”, đó là cửa hàng kẹo Candylicious. Bước vào cửa hàng, không ít khách hàng phải ồ lên thích thú khi xung quanh mình là thế giới của đủ các loại kẹo, nào kẹo mút, socola, kẹo dẻo, đủ hình thù, đủ màu sắc, mùi vị.
Kẹo ở đây được bán theo gram, đôi khi có những deal giảm giá hoặc mua 1 tặng 1 khiến bạn mua được kẹo ngon giá hời. Hiện Candylicious ở Singapore có hai cửa hàng. Một ở Vivo City trạm Harboufront line tím, một ở đảo Sentosa, ngay gần biểu tượng Universal Studio rất dễ tìm.
Lạp xưởng
Đến du lịch Singapore, đặc biệt là dịp gần Tết Nguyên đán, bạn hẳn sẽ không khỏi trầm trồ trước những gian hàng bán lạp xưởng, xúc xích và các loại thịt heo, gà, vịt ướp khô.
Những quầy hàng này thường đỏ rực một màu. Trong quầy treo lủng lẳng các “chùm” lạp xưởng, xúc xích ngon mắt. Các cửa hàng đều có hộp giấy được thiết kế đẹp đẽ để đựng sản phẩm làm quà tặng.
Hồng dẻo
Hóa ra món hồng dẻo được nhiều người ưa thích lại không hề đắt đỏ ở Singapore. Những trái hồng khô, bên ngoài bao bởi lớp đường phấn trắng ngọt ngào, khi xé ra dẻo mềm, thơm phức được bày bán nhiều ở khu mua sắm, đặc biệt là ở Chinatown. Hồng được bán giá khá mềm, khoảng 12 – 15 đô la Singapore 1 kg (tương đương từ 200 nghìn/kg). Nếu bạn mua làm quà, có thể yêu cầu người bán chia làm túi nhỏ và thắt nơ đỏ ở miệng túi cho thêm phần duyên dáng.